lời hay ý đẹp

KÍNH CHÚC CHƯ TÔN ĐỨC TĂNG NI, QUÝ ĐẠO HỮU PHẬT TỬ NĂM MỚI VẠN SỰ AN LÀNH, CÁT TƯỜNG NHƯ Ý.

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Lễ Mộc Dục trong ngày Phật Đản .

Nguồn Gốc và Ý Nghĩa lễ Tắm Phật (Mộc Dục)

16.05.2013 13:59
Xem hình
Mỗi năm đến mùa Phật đản, các chùa đều làm lễ tắm Phật và đọc bài kệ, bài chú tắm Phật. Nếu tin rằng bài chú tắm Phật có tính cách linh thiêng thì cũng được; nhưng theo tôi, hiểu được ý nghĩa và có độ cảm sâu sắc về bài kệ, sẽ gặt hái được nhiều lợi ích hơn trên bước đường tu. Thật vậy, hiểu được trí tuệ và đức hạnh của Phật thì giữa chúng ta và Ngài có sự gắn bó thân thương, gần gũi hơn; từ đó thế giới Ta bà mà chúng ta đang ở và thế giới Phật cũng trở nên gần nhau, không còn bị ngăn cách xa xôi. Và lần lần chúng ta sẽ hiểu được việc làm siêu việt của Phật, hiểu được thế giới Phật, để thâm nhập được thế giới Phật thì sẽ làm được những việc ngoài sức nghĩ tưởng của con người.
 Các Hòa thượng lớn đều đạt được thành quả như vậy, mặc dù các ngài sống giản dị, nhưng việc làm nào của các ngài cũng thành tựu tốt đẹp mà người thường không làm được; đó mới thật là Phật sự. Vì vậy, thâm nhập Phật huệ là thấy Phật tu hành, phát tâm Bồ đề và thành Phật. Chúng ta suy nghĩ và làm theo Phật, nên ở ngoài tham vọng tính toán; nhờ vậy, Phật mới bổ xứ cho ta làm, và bảo Hộ pháp Long thiên trợ lực cho ta, dẫn đến kết quả vượt ngoài khả năng ta.
Một vị Tổ sư có độ cảm sâu sắc về sự thọ mạng bất tử của Phật, đã sáng tác bài kệ tắm Phật, nhưng ngài ẩn danh. Đó là bài thơ Đường có ba đoạn, mỗi đoạn có bốn câu. Bài thơ này bằng chữ Hán nên Phật tử đọc mà ít người hiểu được. Tôi mới dịch bài này ra tiếng Việt như sau, để mọi người hiểu được tôn ý của Đức Như Lai, theo đó tu hành mới đạt được kết quả không thể nghĩ bàn.
        Con nay tắm gội Đức Như Lai
        Trí tuệ quang minh tọa bảo đài
        Ngũ trược chúng sanh đều rửa sạch
        Không còn sanh tử ở trần ai
        Phật cũng không sanh Ca Tỳ La
        Cũng không nhập diệt Câu Thy Na
        Không sanh không diệt là chơn Phật
        Xứng danh giáo chủ cõi Ta bà
        Hôm nay mùng tám tháng Vê-Sa
Xuất hiện trên đời Sĩ Đạt Ta
Chín rồng phun nước từ Thiên ngoại
Bảy bước chân đi bảy đóa hoa
ÁN MÂU NI MÂU NI TAM MÂU NI TÁT PHẠ HẠ

Con nay tắm gội Đức Như Lai”. Chúng ta lấy nước nào tắm Như Lai? Một số người cho rằng không được dùng nước giếng để tắm Phật, phải lấy nước tinh khiết, vì thế chỉ có nước mưa từ trên trời rơi xuống mới tinh khiết. Theo các vị Tổ dạy, nước tắm Phật phải lấy từ tánh thiên chơn hay từ vô thức, vô tâm của chúng ta, nghĩa là cùng tột của sự giải thoát. Vì từ tánh thiên chơn mới sanh ra được nước Bát công đức. Nước Bát công đức có một công năng kỳ diệu là có thể tẩy sạch được thân nghiệp chướng ô uế, rửa sạch tâm phiền não trần lao của chúng ta.
Để tắm Phật, chúng ta mượn nước trong sạch, nhưng muốn linh nghiệm phải kết hợp được lòng thành, tánh thiên chơn của chúng ta. Nếu không có lòng thành, không phát xuất từ tánh thiên chơn, thì không hiệu nghiệm. Công đức thủy này do chúng ta tu hành đúng chánh pháp mà có. Vì thế, phải mượn nước sạch cộng với tâm trong sạch và công đức của chúng ta. Kết hợp ba yếu tố này lại mới thành pháp. Chính vì lý do không đơn giản ấy, nên hình thức tắm Phật giống nhau, nhưng có nơi đạt được sự linh nghiệm, có nơi không. Thực tế chúng ta tham dự lễ tắm Phật, có cảm nhận rằng người chủ lễ trang nghiêm được tâm thanh tịnh, trong sáng, đức hạnh vẹn toàn, nên đã biến nước mưa thành nước Bát công đức. Nước công đức này rải trúng ai thì người đó được tâm mát mẻ. Nói cách khác, nhận thấy đức hạnh của chủ lễ, chúng ta sanh tâm kính trọng, an vui, giải thoát. Có thể nói trên bước đường tu, chúng ta thường mượn cảnh để biểu thị tâm, vì tâm không có cảnh trở thành vô nghĩa, mà cảnh không chuyên chở được tâm thì cũng không có giá trị gì. Hiểu rõ như vậy, khi làm lễ tắm Phật, chúng ta chuẩn bị tư thế đạt đến tánh thiên chơn, với tất cả lòng thành, với tất cả niềm tin, mới có kết quả tốt. Cùng cầu nguyện, mà người có kết quả tốt, người không được gì và cùng tổ chức đạo tràng giống nhau, nhưng có đạo tràng thanh tịnh, đạo tràng không thanh tịnh là như vậy. 
Tâm thành cùng với niềm tin của chúng ta hòa quyện với đức hạnh của vị chủ trì lễ, tất cả dồn lực vào nước tắm tượng Phật, biến tượng trở thành linh thiêng. Tượng vật chất không linh, nhưng kết hợp được niềm tin và lòng thành của con người thì cảnh này trở thành kỳ diệu, tượng này thành trang nghiêm thanh tịnh, khiến chúng ta hình dung bức tượng trong thau nước là Đức Như Lai đứng trên tòa sen và chúng ta tắm Đức Như Lai này. Bấy giờ tượng Phật chính là vật tiêu biểu cho trí huệ quang minh, "Trí huệ quang minh tọa bảo đài” và có công năng "Ngũ trược chúng sanh đều rửa sạch. Không còn sanh tử ở trần ai”.
Chúng sanh có năm thứ trược, hay năm điều ô uế là thế giới Ta bà kết hợp những người có năm thứ này. Một là kiến giải không đồng, thấy khác nhau nên tranh giành, sát hại nhau, là chúng sanh. Ta bà hiện ra vì thấy khác, chấp khác, gọi là kiến trược. "Kiếp trược”, kiếp là một thời kỳ. Ở thời chánh pháp, công lý được phổ biến; nhưng kiếp trược thì công lý không được công nhận, mà sức mạnh làm chủ, nên nạn bè phái, tranh chấp hoành hành. Phiền não trược, chúng sinh trược thì tất cả đều khổ đau vì chống đối nhau, hại nhau và rơi vào cùng tột khổ đau, không bằng lòng cả chính mình, dẫn đến cuộc sống không còn lối thoát vì phiền não bao vây kín mít là mạng trược. Nhưng nhờ làm lễ tắm Phật ngự bảo đài, chỉ nghĩ về Phật, không nghĩ đến chúng sanh, nên tự nhiên chúng ta dẹp được phiền não và xa lìa trần cấu, thì "Không còn sanh tử ở trần ai”. Nghĩ đến Phật, gắn tâm mình nối liền với tâm Phật một cách mật thiết, phiền não trần lao biến mất. Nếu  chúng ta trụ mãi tâm thuần tịnh này, dĩ nhiên chúng ta dễ dàng thành Phật một cách nhanh chóng. Nhưng thực tế hiếm có người giữ được niệm trong sạch này một cách liên tục, chỉ nghĩ đến Phật trong một khoảnh khắc, một niệm tâm thôi, nên chỉ được thanh tịnh trong giây phút ngắn ngủi ấy, rồi lại trở về với tâm niệm điên đảo của chúng sanh.
Phật không còn sanh tử, chúng ta thì trái lại, ở trong sanh tử. Đa số người đã hiểu như vậy là không đúng. Phật không sanh tử, chúng ta còn sanh tử; như thế, giữa Phật và chúng ta cách biệt. Tu Pháp Hoa không hiểu như vậy. Vì thế, trong đoạn hai của bài kệ tắm Phật có nói rõ ý này tương ưng với phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 của kinh Pháp Hoa. 
"Phật không sanh Ca Tỳ La
Cũng không nhập diệt Câu Thy Na
Không sanh không diệt là chơn Phật
Xứng danh giáo chủ cõi Ta bà”.
Theo lịch sử ghi nhận, Đức Phật sanh ở Ca Tỳ La và nhập diệt ở Câu Thy Na; nhưng nay lại nói Phật không sanh ở Ca Tỳ La và không nhập diệt ở Câu Thy Na. Đây chính là cốt lõi của kinh Pháp Hoa, phẩm Như Lai Thọ Lượng, theo đó Phật không sanh diệt là chơn Phật. Nếu Phật có sanh diệt, là Phật chết rồi thì chẳng lẽ không còn Phật hay sao? Chơn Phật không sanh diệt, nhưng chúng ta bị vô minh, vọng kiến ngăn che, nên mới thấy Phật có sanh diệt, nghĩa là thấy Ngài sanh ra trên cuộc đời và Ngài không còn sống nữa. Nếu chỉ thấy như vậy là cái thấy biết đơn giản, không đúng, là cái thấy ảo giác theo cuộc đời, nên Đức Phật thường nói cuộc đời này là ảo mộng, không thực. Nghĩa là cuộc đời thay đổi không cùng, tất cả mọi người làm đủ thứ rồi biến mất, mà kinh cũng thường diễn tả là mộng huyễn bào ảnh. Chính vì lý do đó, Phật dạy rằng người tu Pháp Hoa không phải là người ở trong cuộc đời thấy cuộc đời (bất như tam giới kiến ư tam giới). Còn thấy như người trong cuộc đời là mộng tưởng điên đảo, thì hay giận, buồn, lo, sợ. Vì thế, người còn giận là còn sống với vọng tưởng điên đảo, tự biết không phải là hành giả Pháp Hoa. Người hay sợ, nhất là sợ chết, nhưng thân này tất yếu phải chịu sự chi phối của sanh diệt, có sanh phải có chết, không thể khác. Chết là việc quan trọng nhất của con người, mà chúng ta không sợ, thì những việc khác có gì mà phải sợ. Còn nói đến lo thì đa số người lo nghèo, đói, khổ; đó là việc không đáng lo. Vì như đã nói tất cả mọi việc trên cuộc đời này là mộng ảo phù du, người giàu có quyền thế đã có đủ thứ mà họ có tồn tại mãi đâu. Việc đáng lo nhất là lo ra khỏi thế giới sanh tử luân hồi, để trở về cội nguồn của chúng ta là thế giới Phật. Ở thế giới Phật mới là chánh, ở đây là phụ. Việc của chúng ta là nhắm đến cái gốc không còn sanh tử. Vì thế, chúng ta sợ nhất là sợ kẹt trong sanh tử, trong vô minh. Vì chúng ta nhìn sự vật không chính xác, nên nghĩ tưởng đủ thứ, không bao giờ đúng, mới buồn phiền, khổ đau, thất vọng, nghĩa là sống với thế giới sanh tử. 
"Hôm nay mùng tám tháng Vê Sa
Xuất hiện trên đời Sĩ Đạt Ta
Chín rồng phun nước từ Thiên ngoại
Bảy bước chân đi bảy đóa hoa”
Vì chúng ta sống trong cuộc đời ảo mộng, nên Phật cũng phải hiện thân vào thế giới này để cứu độ chúng ta. Nếu Phật không xuất hiện trên cuộc đời, tất cả mọi người làm sao biết Phật là gì.
Phật không sanh diệt là Phật chân thật, nhưng không ai thấy, không ai biết, nhưng nhờ Phật mang thân người trên cuộc đời mà chúng ta hình dung ra Phật. Phật xuất hiện với tư cách của con người toàn thiện, không khổ đau. Dù Ngài là con người mang tên Sĩ Đạt Ta, nhưng cuộc sống của Ngài thể hiện rõ nét tất cả những gì đáng quý nhất. Trong con người Phật, từ cấu trúc cơ thể khỏe mạnh, thông minh, tướng hảo trọn lành, cho đến sự hiểu biết tuyệt đỉnh, tâm lượng đại từ bi, vị tha vô cùng, việc làm lợi ích vô tận, v. v...
 Nhờ sanh thân Phật hiện hữu mà chúng ta nhận ra được Báo thân Phật kết hợp toàn những điều quý báu như vừa nói. Vì thế, chúng ta kính trọng Phật là kính trí tuệ và đức hạnh của Ngài. Phật là biểu tượng của sự hiểu biết chính xác cao tột để chúng ta nương theo, mới nhận ra được Phật chân thật vĩnh hằng. Trí Giả đại sư diễn tả ý này là vị liên cố hoa; nghĩa là Phật thật ví như gương sen bên trong, Phật hiện trên cuộc đời ví như hoa sen bên ngoài. Hoa sen từ bùn sanh ra, tỏa hương thơm tinh khiết mà các loài hoa khác không có được. Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời tiêu biểu cho sự trong sạch hoàn toàn như hoa sen mà không một bậc Thánh nhân nào có thể sánh bằng và Đức Phật tinh khiết như gương sen nhờ cốt lõi tâm trọn lành của Phật thật. Từ Phật gốc toàn thiện, toàn mỹ, toàn bích như vậy mới thể hiện lời nói và việc làm thánh thiện của Phật bằng xương thịt hiện hữu trên thế gian. Nhờ tâm Phật đặt vào thân Thái tử Sĩ Đạt Ta, nên đã biến đổi thân thái tử thành thân Phật, nhưng người ta cứ tưởng lầm thái tử là Phật.
Thái tử Sĩ Đạt Ta hay Phật Thích Ca có xuất hiện trên cuộc đời và có từ giã cõi đời, nhưng nhờ tâm Phật ẩn chứa bên trong, nên Phật thật không chết, mà tồn tại vĩnh hằng. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, Đức Phật bảo Di Lặc Bồ tát rằng nếu có người nào sanh một niệm tín giải thọ mạng dài lâu của Đức Như lai thì sẽ được công đức nhiều hơn công đức của người bố thí, trí giới, nhẫn nhục trong tám mươi muôn na do tha kiếp. Nếu hiểu ý nghĩa thọ lượng Như lai thì có thể được phát sanh Phật huệ Nhứt thiết chủng trí, lại có thể thấy… thế giới Thật Báo của Lô Xá Na. Nghĩa là người hiểu được Phật thật đi vào sanh thân của Sĩ Đạt Ta và Phật thật đó ra khỏi Sĩ Đạt Ta, là đã nhận chân được Phật không sanh diệt. Và chúng ta nương theo Phật không sanh diệt để tu, theo công đức và trí tuệ của Phật thật đó để phát huy hiểu biết và đạo hạnh của mình; nói cách khác, nhìn sanh diệt mà hướng về Vô sanh, về Niết bàn.
Người có trí hiểu được Phật thật hiện vô Sĩ Đạt Ta và khi thân Sĩ Đạt Ta già rồi, thì Phật thật ra đi. Thân người ví cho nhà ngũ uẩn, nhưng nhà này hư mục, chúng ta bỏ đi và đến nhà khác ở. Người khôn chỉ ở tạm nhà ngũ uẩn, họ làm việc tích lũy được một số tiền lớn, thì nhà mục, họ mua được nhà khác sang trọng hơn để ở. Cũng vậy, linh hồn chúng ta trong sáng và có phước đức, chúng ta phải có thân xác tốt. Linh hồn chúng ta xấu ác sẽ có xác thân xấu xí. Linh hồn tốt ví như người giàu có, phải mua nhà tốt ở. Chúng ta hành Bồ tát đạo tạo được nhiều công đức, khi nhận thấy thân này sắp hư, chúng ta tạo thân khác tốt hơn để tiếp tục công việc hoằng hóa độ sanh. 
Đức Phật nói Ngài thành Phật ở chỗ này thì có tên này, thành Phật chỗ khác có tên khác; nghĩa là Phật có phước báo rồi, Ngài sử dụng phước đó để tạo nhà ngũ uẩn ở đâu cũng được. Ví như người có tiền tìm nhà tốt ở khu an ninh, sang trọng để ở. Chúng ta nghèo phải vào xóm nghèo, phải chấp nhận sống chung với những người hung ác, trộm cắp, v.v…
Trên bước đường tu, khi thọ thân ngũ uẩn, chúng ta coi nó là chỗ tạm nương náu để tạo công đức. Nhưng thân này hoại rồi, phải bỏ nó mà không có chỗ khác ở thì tinh thần mê mờ sẽ dẫn đường đưa lối, chỗ nào cũng chui vô đại, chỗ ở của heo gà chó… cũng vô, vì đâu có điều kiện để lựa chọn. Cần hiểu rằng tạm mượn thân ngũ uẩn, nhưng quan trọng là chúng ta được gặp Phật pháp, nương theo Phật pháp tu hành, nương theo Thầy hiền bạn tốt để khai ngộ cho chúng ta làm quyến thuộc Bồ đề, để giúp chúng ta tạo các thắng duyên khác. Vì được làm bạn với Bồ tát mười phương, các ngài mới giới thiệu cho chúng ta vùng đất tốt đẹp, an lành. Đó là Tịnh độ của Phật mười phương có rất nhiều, nhưng chúng ta không biết. Các Bồ tát chỉ cho chúng ta những nơi an lành ấy. Tu Pháp Hoa là nương các vị này dẫn lối đưa đường cho chúng ta đi đến những nơi an lành; nghĩa là bước đường tu của chúng ta đã có định hướng, nên bỏ xác rồi mới đến đó được. Nhiều người niệm Di Đà, nhưng ít người được về Cực Lạc là vậy. Phước đức thế nào mới vào thế giới Phật được. 
Kỷ niệm mùa Phật Đản, cầu mong Tăng Ni, Phật tử luôn hướng tâm đến Đức Phật bất sanh bất diệt, sống với Phật Báo thân vĩnh hằng bất tử để nuôi lớn Báo thân của chúng ta, để xây dựng cõi Tịnh độ an lạc ngay trên cõi nhân gian này.
                                                                (Trich bai giang cua Hoa ThuongThich Tri Quang)

Vài hình ảnh trong buổi lễ Mộc Dục tại chùa Vạn Thiện









Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

CHƯƠNG TRÌNH TRAO QUÀ CHO CÔ GIÁO VÀ HỌC SINH TRƯỜNG MẪU GIÁO TUỆ UYỂN , LONG THÀNH , ĐỒNG NAI .

 Nhân kỷ niệm ngày Đức Phật Đản sanh , PL 2557 , Ni sư Thích Nữ Như Lợi , trụ trì chùa Vạn Thiện cùng ban từ thiện chùa đã trao 300 phần quà cho học sinh và cô giáo trường mẫu giáo Tuệ Uyển , thuộc huyện Long Thành , tỉnh Đồng Nai.






Được biết đây là trường mẫu giáo do Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Nguyện trụ trì chùa Phước Hải , quận 10 sáng lập nhằm giúp đỡ con em công nhân địa phương có nơi học tập để cha mẹ các em lao động sản xuất  .


  

Tham gia cùng đoàn có sự góp mặt của chư Ni tổ đình Từ Nghiêm , quận 10, chư ni chùa Vạn Thiện , quận 5 cùng quý vị mạnh thường quân thuộc tp Hồ Chí Minh .



Nguyện cầu mười phương Chư Phật độ trì cho quý Chư ni  thân tâm thường lạc, Phật sự viên thành.
Ban từ thiện chùa Vạn Thiện xin chân thành cảm tạ quý vị hảo tâm đã chung tay góp sức với ban từ thiện chùa thực hiện chương trình này . Kính chúc quý vị cùng gia đình luôn an lành và hạnh phúc.

NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT

( V.A. Ban từ thiện chùa Vạn Thiện , q. 5 )

TẶNG QUÀ CHO ĐỒNG BÀO NGHÈO TẠI ĐỊA PHƯƠNG

Mừng ngày Phật Đản Sanh 2557 , ban từ thiện chùa Vạn Thiện tổ chức phát 150 phần quà cho đồng bào nghèo tại địa phương . Mỗi phần quà trị giá 200.000đ , gồm 










                             
Cùng ngày , ban từ thiện cũng trao cho chị Nguyễn thị Cho ấp 4, huyện Hóc Môn , tp HCM 1 xe lắc và 1 phần quà nhân ngày Phật Đản sanh .


Chân thành tri ân quý vị hào tâm đã đóng góp tịnh tài tịnh vật , chia sẽ sự khó khăn của bà con gần xa . Chúc quý ân nhân thân tâm an lạc, phật sự viên thành.

                                                                   V.A. ban từ thiện chùa Vạn Thiện.

LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA



Đức Phật Thích ca nguyên tên là Tất đạt đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, là một quý tộc. Tên Ngài nói đủ là Kiều tất la Thích ca Tất đạt đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, vắng lặng của Ngài, chỉ là tiếng để khen ngợi.
   I. VÀI NHẬN ĐỊNH KHI HỌC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT
   1. Ngài là một vị Đại Bồ tát ra đời vì bản nguyện độ sanh, vì lẽ đó, lịch sử của Ngài có tính cách siêu việt hơn người thường.
   2. Vì lòng từ bi lợi tha và tự chủ trong sự thọ sanh, nên mỗi cử động trong đời Ngài đều hướng về sự giáo hóa trên đường giải thoát.
   3. Nên nhận rõ ý nghĩa của lịch sử hơn là câu nệ từng chi tiết nhỏ.
   II. THÂN THẾ CỦA NGÀI
   Đức Phật Thích ca nguyên tên là Tất đạt đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, là một quý tộc. Tên Ngài nói đủ là Kiều tất la Thích ca Tất đạt đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, vắng lặng của Ngài, chỉ là tiếng để khen ngợi.
   Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ la vệ (Kapilavastu), mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma da. Nước Ca tỳ la vệ tức là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba la nại (Bénares) ngày nay.
   III. NGÀY VÀ CHỖ SINH CỦA NGÀI
   Thái tử sinh lúc mặt trời vừa mọc, nhằm ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ, tức là ngày mồng tám tháng tư lịch Tàu. Ngài sinh vào khoảng 563 năm trước Tây lịch. Theo tục lệ Ấn Độ đàn bà có chồng lúc sinh nở phải trở về nhà cha mẹ. Bà Hoàng hậu Ma da trở về ngang qua vườn Lâm tỳ ni của vua Thiện Giác thì sinh Ngài dưới cây vô ưu. Khi mới sinh, Ngài đứng trên hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, miệng nói: "Trên trời dưới trời chỉ một mình ta là lớn."
   IV. TƯỚNG MẠO VÀ TÀI NĂNG CỦA THÁI TỬ
   Thái tử sinh ra có nhiều điềm lạ: quả đất rung động, vừa sinh ra Ngài đã đi bảy bước,... mọi người đều hân hoan đón mừng vị cứu tinh xuất hiện. Thái tử sinh ra đã có 32 tướng tốt báo trước Ngài là một vị xuất chúng và Ngài sẽ thành Phật để dìu dắt muôn loài. Ngài sinh ra vừa được bảy ngày, mẹ Ngài từ trần. Bà dì Ngài là bà Ma ha Ba xà ba đề nuôi nấng chăm sóc Ngài. Ngài rất thông minh, các vị giáo sư danh tiếng dạy Ngài đều phải bái phục.
   V. ĐỜI SỐNG CỦA THÁI TỬ
   Thái tử sống trong cảnh cực kỳ sung sướng và được sự nuông chiều hết sức của vua cha. Xung quanh Ngài luôn luôn có vũ nữ ngày đêm đờn ca xướng hát để làm vui lòng Ngài. Tuy nhiên, Thái tử vẫn trầm tư mặc tưởng. Trên mặt luôn luôn lộ nét buồn kín đáo và, một đôi khi Ngài đã tỏ với vua cha xin đi xuất gia để tìm phương cứu mình, cứu đời. Đoán biết ý con, vua Tịnh Phạn sinh sợ sệt và tìm đủ mọi cách tăng thêm dục lạc, mong làm khuây được chí nguyện xuất gia của Ngài.
   VI. CHÍ NGUYỆN XUẤT GIA CỦA THÁI TỬ
   Sau nhiều lần mục kích những thảm trạng già, đau, bệnh, chết và sự bất công mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại, trong những cuộc du ngoạn ở bốn cửa thành. Thái tử Tất đạt đa cảm nhận được những nỗi thống khổ của con người. Lòng thương chúng sanh bồng bột nổi dậy, Thái tử không còn vui được nữa.
   Với một ý chí cương quyết tìm chân lý, nên trong một đêm kia sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài đã cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt thành xuất gia với tên hầu cận trung thành Xa nặc; giữa lúc mọi người đang chìm trong bóng tối và mê man theo giấc ngủ. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, ngày mồng tám tháng hai vào lúc giữa đêm.
   VII. TÌM CHÂN LÝ VÀ TU ĐẠO
   Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, Ngài cắt tóc và thay đổi y phục trao lại bảo Xa nặc đem về dâng Phụ hoàng và tỏ rõ sự tình. Từ đây, Thái tử đã trở thành một đạo sĩ và dấn thân trên đường tìm đạo. Ngài đi đến thành Vương xá (RajagrÌha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn mà tham khảo phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, Ngài không thỏa mãn vì cho rằng chưa được rốt ráo. Ngài liền vào rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác, một ngày chỉ ăn một hạt mè, hạt gạo và suy nghĩ trong sáu năm, song vẫn thấy vô hiệu. Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh ấy không phải là lối tu giải thoát. Và sau khi nhận bát sữa của nàng Tu xà đề dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng khoái, Ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và phát nguyện: "Nếu không tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này". Trải một thời gian thiền quán, Ngài đã chiến thắng được tất cả những tật xấu xa của thân thể và nội tâm. Ngài lại uốn dẹp được mọi sự phá rối của ma vương bên ngoài.
   Đầu đêm, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy rõ ràng những đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy được cả vũ trụ bao la; cuối đêm vào lúc sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh, nhận chân nguồn gốc sanh tử luân hồi là sự mê mờ gọi là vô minh, và hoàn toàn giác ngộ.
   Ngài đã thành đạo vào lúc sao mai mọc, ngày 8 tháng Chạp. Sau khi thành đạo, Ngài đã than: "Than ôi! Chúng sanh vốn đầy đức tướng trí huệ Như lai, nhưng chỉ vì vô minh che lấp nên phải sanh tử luân hồi đấy thôi!".
   VIII. THUYẾT PHÁP ĐỘ SANH
   Sau đó, Ngài liền đến vườn Lộc uyển nói pháp Tứ đế độ cho năm ông tỳ kheo (Kiều trần như, Ac bệ, Thập lục ca diếp, Ma ha nam Câu ly và Bạc đề). Từ đó đạo Ngài truyền khắp xứ Trung Ấn Độ và lan mãi khắp hoàn cầu.
   IX. NHẬP DIỆT
   Trải qua 49 năm trên đường giáo hóa, Ngài đã tận lực gieo rắc ánh đạo vàng khắp đó đây, hóa độ chúng sanh. Vô số người đã được mang ơn pháp nhũ của Ngài mà trở về với chánh đạo. Nhơn duyên đã mãn, những người nên độ đều đã độ xong. Ngài vào niết bàn tại rừng Ta la song thọ, để lại những nỗi thương tiếc tràn ngập cả lòng người. Ngài nhập diệt lúc 81 tuổi, nửa đêm ngày Rằm tháng hai âm lịch.
 X. VÀI Ý NGHĨA CẦN NHẬN THỨC TRONG LỊCH SỬ PHẬT
   1. Vì lòng từ bi, Ngài ra đời cốt để vạch cho chúng sanh một con đường cao quý ý nghĩa hơn, so với kiếp sống mong manh hiện tại.
   2. Tuy sống trang đài danh vọng, Ngài vẫn cảm thấy những nỗi vô vị của vật chất. Và Ngài đã nói rằng: "Hạnh phúc không phải chỉ tìm trong khoái lạc của vật chất".
   3. Những cuộc du ngoạn và nhiều lần mục kích những thảm cảnh của con người, Ngài đã cho ta thấy rằng: "Đời là một bể khổ đầy dẫy những bất công, tội lỗi, nếu ta duy trì mãi tình trạng mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại, và thiếu một lòng thương thành thật".
   4. Anh sáng có thể trở lại với những tâm hồn vị tha rộng rãi, biết hy sinh dục vọng riêng tư. Và chỉ có chân lý Ngài đã tìm ra, sau bao cuộc thử thách chiến đấu với ma chướng mời là phương pháp cứu khổ độ lạc.
   5. Sự hy sinh liên tiếp trong vô số kiếp của Ngài, đã làm cho Ngài trở nên một đức Phật đầy đủ phước đức và trí huệ. Muốn cảm thông và được sức gia hộ của Ngài, chúng ta phải thường niệm đến danh hiệu của Ngài và làm theo lời Ngài dạy.

                                                                         ( nguồn Chùa HOẰNG PHÁP )